Diễn đàn chia sẽ kinh nghiệm học tập & nghiên cứu khoa học

Tinh thần khoa học

 
Picture of Admin User
Tinh thần khoa học
by Admin User - Wednesday, 9 May 2018, 6:03 PM
 

Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập

Đào Văn Tiến (http://tusach.thuvienkhoahoc.com)

Vladimia Cuocganop: "... Nếu thanh niên không quan tâm tới khoa học, xã hội sẽ nhanh chóng suy thoái về văn hóa và vật chất..."

 

TINH THẦN KHOA HỌC

“Nếu nghiên cứu khoa học teo đi, đời sống tinh thần của đất nước ngừng trệ và do đó bao khả năng tiến bộ tương lai tan thành mây khói”.

ANXTANH

Khoa học gồm hai bộ phận: kiến thức khoa học và phương pháp khoa học.

Phương pháp khoa học giúp con người tích luỹ kiến thức khoa học.

Khối kiến thức KH tăng không ngừng qua bao thế hệ nhà khoa học, không chỉ làm giàu vốn trí tuệ của con người về các quy luật chi phối hiện tượng tự nhiên mà còn được ứng dụng trong thực tế sản xuất và đời sống ngày càng nhiều, nhằm cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của con người.

Khối kiến thức về lí luận và phương pháp của khoa học cũng làm kết tinh một số đức tính quí báu nhất của nhân loại gọi là tinh thần khoa học (hay trí tuệ khoa học), một bộ phận quan trọng của tư duy.

Tinh thần khoa học thành hình cùng với khoa học qua bao đời nay vẫn giữ nguyên giá trị vì ở thời đại nào nó cũng giúp con người tiếp cận chân lí. Nó không những giúp ích cho nhà khoa học trong công tác nghiên cứu mà còn cho mọi người hành động có kết quả.

Từ xưa tới nay, đã thay đổi các chế độ xã hội, các nguyên lý đạo đức, các nguyên lý thẩm mỹ, các học thuyết khoa học, nhưng tinh thần khoa học vẫn tồn tại với khoa học, mà khoa học thì còn mãi mãi với loài người.

Châm ngôn Ả Rập đã có câu: Khoa học là do một thiên thần tại óc sáng tạo ra vì không muốn cho loài người nghỉ ngơi.

Chỉ lúc nào mà tinh thần khoa học sút kém, lúc nào mà con người tự mãn với hiểu biết của mình không muốn sưu tầm kiến thức nữa, lúc đó là nền văn minh đi tới chỗ suy đồi. Lịch sử nhân loại đã chứng minh sự suy tàn của nền văn minh xưa kia sau thời kỳ cực thịnh: cổ Ai Cập, cổ Hi Lạp, cổ La Mã, cổ Trung Quốc v.v..

Sang thời Trung cổ, qua hàng trăm năm, xã hội châu Âu trì trệ vì tinh thần khoa học bị ức chế bởi Nhà thờ. Phải đợi tời thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XVIII), tinh thần khoa học được giải phóng mới thúc đẩy xã hội tiến nên.

Ở thời kỳ phong kiến phương Đông, nhiều nước có xã hội ngưng đọng hàng ngàn năm cũng do tinh thần khoa học bị kìm hãm bởi giai cấp thống trị và tôn giáo.

Nhìn chung, ở thời kỳ nào, nơi nào mà khoa học phát triển, tinh thần khoc học phổ biến rộng rãi, thì mê tín dị đoan giảm hẳn, xã hội hưng thịnh. Còn ở thời kỳ nào, nơi nào mà tinh thần khoa học sút kém, là lúc đó ở nơi đó tà thuyết phát triển, bước tiến của xã hội chậm lại.

Có thể nói: tinh thần khoa học là tinh thần hồn nền văn minh của nhân loại.

Theo nhiều nhà triết học và nhà khoa học, tinh thần khoa học gồm các đức tính sâu đây:

1.    Yêu chân lý và dũng cảm trí tuệ

2.    Trung thực trí tuệ

3.    Độc lập trí tuệ

4.    Nghi vấn khoa học

5.    Tin tưởng khoa học

6.    Khiêm tốn và rộng lượng

7.    Tư duy không vụ lợi

 


Giáo dục nhìn từ tinh thần khoa học hậu hiện đại

Nguyễn Hào Hải (CAND)

Có thể dự án "Văn Miếu đương đại" không còn được thực thi, nhưng tư tưởng của một lối nghĩ cũ về học hành, thi cử mà dự án "Văn Miếu đương đại" muốn đắp luỹ xây thành, dựng tượng đài thì còn chưa mất đi ở nhiều người - một điều đã không còn thích hợp với tinh thần khoa học hậu hiện đại  nữa.

Tinh thần khoa học hậu hiện đại là một chủ đề lớn có nhiều điều để nói, để bàn nhưng bài viết này chỉ đề cập đến vấn đề giáo dục đào tạo bậc cao học (sau đại học) ở chủ đề "tinh thần khoa học hậu hiện đại"- một trong những vấn đề cần phải lưu tâm nhất với lĩnh vực đào tạo giáo dục hiện nay ở ta.

Quan niệm phát triển khoa học thời hậu hiện đại (và ở đây như đã nói chỉ đề cập đến vấn đề giáo dục đào tạo) cho rằng: Một nền giáo dục đào tạo mà không thể hiện được sự phù hợp, sự đáp ứng được nhu cầu quan trọng để phát triển xã hội thì không thể gọi là nền giáo dục thật sự, một nền giáo dục hợp thức và nền giáo dục đào tạo ấy dễ dàng bị  đẩy xuống một cấp thấp, mang nặng tính thương mại.

……….

Ở Việt Nam chúng ta, tình trạng khủng hoảng thừa trí thức cũng là một vấn đề đã từng có (với ý nghĩa nhiều sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học không xin được việc làm hay không biết làm gì, rồi không ít người có bằng cấp, học vị cao nhưng năng lực chuyên môn lại thấp, hoặc không còn phù hợp vẫn ngồi lỳ chiếm chỗ ở nhiều cơ quan, công sở…).

Vào thập niên 60, 70, 80 thậm chí cả 90 của thế kỷ trước, số lượng sinh viên được đào tạo ở các trường đại học là rất nhiều. Đó là do chính sách của Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo. Tuy nhiên đó mới chỉ là mặt bề nổi, mặt số lượng của vấn đề.

Đúng là một nhà nước có một chế độ tốt đẹp, ưu việt là có nhiều người được đến trường, có nhiều sinh viên đại học, có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư (so với các nước trong khu vực và các nước chậm phát triển nhìn vào bề nổi, vào số lượng thì Việt Nam đứng đầu bảng về mặt giáo dục đào tạo.

Không những vậy so với nước Nhật, tính theo tỷ lệ đầu người, Việt Nam còn có số lượng sinh viên đại học, tiến sĩ, giáo sư, số trường đại học nhiều gấp ba lần cường quốc đứng thứ hai về kinh tế này của thế giới. Trong khi Việt Nam còn rất nghèo, GDP chỉ bằng 1/20 của Nhật).

Đào tạo ra nhiều sinh viên đại học, nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, phó giáo sư, giáo sư nhưng vấn đề ở chỗ: sinh viên tốt nghiệp ra trường có xin được việc làm hay không? có làm được việc không? có làm đúng ngành nghề được đào tạo không?... Rồi thực chất những người được đào tạo ở bậc cao học về mặt chất lượng, về mặt hiệu quả, tính dụng học, thực học là như thế nào?... Có thể nói trong công tác giáo dục đào tạo về mặt này trước đây chúng ta chưa quan tâm đúng mức, hay nói một cách khác là có vấn đề.

Đã có nhiều hội nghị, nhiều bài báo nêu ra những yếu tố nguyên nhân về chất lượng thấp của đào tạo bậc đại học. Còn đào tạo bậc cao học (sau đại học) thì sao? Công tác đào tạo bậc cao học được chúng ta bắt đầu chú ý nhiều hơn kể từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1975.

Công tác này nở rộ ở hai thập kỷ 80-90 (thế kỷ trước) - thời kỳ bao cấp tiếp nối là thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới. Nơi cử những nghiên cứu sinh đi học bậc cao học chủ yếu là những nước Đông Âu cũ, đặc biệt là Liên Xô, sau là Nga. Có đặc điểm khác nhau giữa hai thế hệ nghiên cứu sinh học tập ở nước ngoài: Thế hệ từ 1945-1975 và sau 1975 (chỉ nói về những người được Nhà nước cử đi học).

Thế hệ đầu những người được cử đi học biết rằng ở trong nước có hàng vạn, hàng triệu người trẻ tuổi như họ đang ngày đêm làm việc, chiến đấu đầy gian khổ, cam go, phải hi sinh cả xương máu ở khắp các mặt trận chiến đấu cũng như sản xuất, nên đối với họ học tập, nghiên cứu khoa học cũng là một mặt trận quan trọng mà Tổ quốc giao phó cho và họ đã thực hiện nhiệm vụ này với tinh thần đầy nhiệt huyết, hăng say. Nếu như ở mặt trận chiến đấu, sản xuất đã có những tấm gương sáng của các chiến sĩ, anh hùng, thì mặt trận này cũng đã xuất hiện những người giỏi, người tài như Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Đình Tứ…

Thế hệ nghiên cứu sinh sau 1975, họ được cử đi học khi giặc ngoại xâm không còn nữa, nhưng thay vào đó là giặc đói nghèo của một đất nước kiệt quệ sau mấy chục năm chiến tranh nên có một số người được cử đi ra nước ngoài thấy rằng ngoài nhiệm vụ học tập còn có thêm nhiệm vụ nữa: làm kinh tế để "cứu nước, cứu nhà".

Không thiếu những nghiên cứu sinh ở thế hệ này do quá chú trọng làm nhiệm vụ kinh tế nên đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình, cho nên hàng năm bộ phận phụ trách nghiên cứu sinh ở nước ngoài của Bộ Giáo dục và Đào tạo phải có công văn gửi đến các cơ sở có người được cử đi làm nghiên cứu sinh đề nghị báo cáo rõ: Số người không hoàn thành đúng thời hạn luận án: chậm 6 tháng? một năm? hai năm?...

Những trường hợp bỏ hẳn nhiệm vụ học tập để ở lại nước ngoài để làm kinh tế - một điều chưa từng có đối với những nghiên cứu sinh học tập ở nước ngoài của thế hệ đầu...

Thế rồi không phải là không có những phó tiến sĩ, tiến sĩ thiếu chất lượng khi về nước vẫn ngồi vào những nơi chỗ trọng yếu của các cơ quan khoa học đào tạo, bởi lẽ đất nước mới ra khỏi cuộc chiến tranh, thiếu thốn đủ thứ, thiếu rất nhiều những người có bằng cấp, học vị cao trong tất cả mọi lĩnh vực.

Tiếp đến các nước bạn vẫn ưu ái giúp đỡ ta trong đào tạo bậc cao học trước đây cũng đang ở vào những thời kỳ khó khăn, không thể bao cấp giúp ta đào tạo các nghiên cứu sinh như trước. Muốn đào tạo phải mất tiền, mất rất nhiều tiền.

Đất nước còn nghèo, vì vậy chúng ta phát huy "tinh thần tự lực cánh sinh", với một số lượng phó tiến sĩ, tiến sĩ, những cán bộ nghiên cứu lâu năm đã hòm hòm, ta phong phó giáo sư, giáo sư để tạo bộ khung làm nền cho công tác đào tạo bậc cao học trong nước.

Với nhu cầu những người muốn lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ rất đông kèm theo những tâm lý phấn khích, nôn nóng mong chờ cả ở những người được đào tạo lẫn người đào tạo, nhiều trung tâm đào tạo sau đại học lần lượt được mở ra và kết quả như chúng ta đã thấy: tiếp nối năm này qua năm khác, năm nào chúng ta cũng được mùa thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư làm cho đất nước chúng ta mau chóng trở thành một trong những quốc gia có nhiều người có bằng cấp, học hàm, học vị nhất thế giới. Không phải không có lý khi có những ý kiến cho rằng chúng ta đang bị căn bệnh "sính bằng cấp"...

Cũng phải thừa nhận rằng trong lúc chúng ta còn thiếu nhiều cán bộ khoa học vừa có học hàm, học vị cao vừa có trình độ chuyên môn giỏi ngang ngửa với quốc tế, thì việc thay số lượng bằng chất lượng trong những hoàn cảnh, những thời điểm ban đầu để tạo đà, để phần nào nâng cao mặt bằng trí thức, khoa học lên là cần thiết, nhưng kéo dài tình trạng đào tạo cả bậc đại học lẫn cao học theo kiểu đại trà mãi sẽ không ổn.

Điều này chúng ta đã thấy và đang chỉnh sửa dần. Bạn bè quốc tế cũng góp ý chân tình cho chúng ta về điểm này ở nơi này, nơi khác, dịp này dịp nọ và gần đây nhất là trong Hội thảo "Phát triển các chiến lược của nền kinh tế tri thức" họp tại Séoul, Hàn Quốc vào trung tuần tháng 7/2008 do WBI (Viện Ngân hàng Thế giới) tổ chức và tài trợ: Việt Nam được chấm 3,17 điểm (thang điểm 10 - tính theo chỉ số KEI), xếp thứ 96 trong tổng số 132 quốc gia đăng ký xây dựng nền kinh tế tri thức.

Việt Nam được khen là có tiến bộ (năm 1995 được 2,26 điểm) và cũng được nhắc nhở rằng: Việt Nam có số lượng các nhà khoa học, các giáo sư, tiến sĩ đông nhưng lại có những bằng sáng chế, những công trình khoa học có giá trị ít, chất lượng  giáo dục đại học, cao học, chất lượng quản lý khoa học không cao… (hiện nay các tỉnh thành, các ngành… đua nhau mở trường đại học.

Theo chuẩn quốc tế (phương Tây): Một đại học được thừa nhận tồn tại đúng nghĩa chỉ khi có tối thiểu nửa tá giáo sư của trường có "chứng chỉ" Hici - tức những giáo sư có các lý thuyết, học thuyết, những công trình khoa học, được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng ngành trích dẫn nhiều nhất ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế.

Trong công việc học hành, thi cử của chúng ta mảng tiêu cực và tích cực đều tạo nên những ấn tượng. Như chúng ta đều biết một điều đã được chứng minh qua nhiều thời đại lịch sử: Việt Nam ta có rất nhiều người thông minh, có nhiều người học rất giỏi, đỗ đạt cao. Trong quá khứ đó là những tiến sĩ đã được tôn vinh trên các tấm bia đặt trên lưng rùa ở "Văn Miếu cổ điển".

Thời hiện đại cũng không ít người đã đỗ thủ khoa ở các niên học, các kỳ thi trong nước, rồi cũng không ít người đã ra nước ngoài học cả ở cấp đại học và cả sau đại học nhận được bằng xanh, bằng đỏ… Các cuộc thi quốc tế các môn toán, lý, hoá, tin học…, những thí sinh của ta luôn đạt những thứ hạng cao nhất và luôn xếp ở tốp mạnh của thế giới. Đó là sự thật rõ như ban ngày.

Nói đến khoa học là nói đến phát minh, sáng chế, là sáng tạo. Nhưng chúng ta trong lĩnh vực học tập chỉ dừng lại ở việc thi cử đỗ đạt rất cao, rồi hầu hết những người đỗ bằng xanh, bằng đỏ, đỗ thủ khoa các kỳ thi trong nước, quốc tế đều mất hút vô tăm tích trong lĩnh vực sáng tạo, mặc dù với nhiều người con đường dẫn đến các giải Nobel đối với họ không phải là xa vời. Tại sao?

Nhiều ý kiến cho rằng do ở ta thiếu điều kiện, cơ sở vật chất, thiếu môi trường thích hợp để họ có thể phát huy được những tài năng. Điều này chỉ đúng một nửa, còn nửa khác là ở thói quen học hành, phong cách tư duy, phong cách làm việc của giới trí thức có trong truyền thống lâu đời đã gây không ít cản trở cho sự sáng tạo…